Kết quả điều trị sớm sau mổ 52 trường hợp teo ruột non bẩm sinh bằng kỹ thuật nối tuận tận-tận sau khi tạo hình nhỏ bớt đầu tiên



Nhóm tác giả: Phạm Duy Hiền, Nguyễn Duy Việt, Nguyễn Thanh Liêm I. ĐẶT VẤN ĐỀ Teo ruột non bẩm sinh (TRNBS), hay sự bít tắc hoàn toàn lòng ruột non bẩm sinh là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tắc ruột ở trẻ sơ sinh. Tỷ lệ TRNBS thay đổi trên […]


Nhóm tác giả: Phạm Duy Hiền, Nguyễn Duy Việt, Nguyễn Thanh Liêm

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Teo ruột non bẩm sinh (TRNBS), hay sự bít tắc hoàn toàn lòng ruột non bẩm sinh là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tắc ruột ở trẻ sơ sinh. Tỷ lệ TRNBS thay đổi trên
1/130 ở Mỹ [8], 1/400 ở Đan Mạch trẻ mới đẻ còn sống. Trên thế giới, TRNBS đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu về nguyên nhân, sinh bệnh học, chẩn đoán, điều trị…. Cùng với sự tiến bộ của gây mê hồi sức, tỷ lệ sống của bệnh đã được cải thiện đáng kể. ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về dị tật này còn ít, tỷ lệ tử vong trong những năm trước đây còn cao.Theo tác giả Nguyễn Văn Đức tại bệnh viện Việt Đức, trước năm 1975, tỷ lệ tử vong là 80% [2]; Nguyễn Thanh Liêm năm 1990 là 59% [5]; Nguyễn Kỳ Minh năm 2002 là 13% [1]. Từ năm 1995, PGS Nguyễn Thanh Liêm đã áp dụng kỹ thuật nối ruột tận tận sau khi tạo hình nhỏ bớt đầu trên để điều
trị cho những bệnh nhân teo ruột bẩm sinh, kỹ thuật này đã đem lại kết quả điều trị rất khả quan.

Mục đích của bài báo này nhằm đánh giá kết quả sớm sau mổ TRNBS bằng kỹ thuật nối ruột tận tận sau khi tạo hình nhỏ bớt đầu trên cho 52 trường hợp được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi trung ương từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2006.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

2.1.Đối tượng nghiên cứu.

Bao gồm 52 trường hợp TRNBS được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi trung ương từ
tháng 1/2004 đến tháng 12/2006.

Tiêu chuẩn chọn:

• Tuổi: nhỏ hơn 30 ngày

• Giới: Cả 2 giới

• Tiêu chuẩn chẩn đoán: TRNBS được xác định bằng phẫu thuật.

• Xác định được vị trí tắc ở ruột non.

• Xác định được thương tổn theo phân loại của Grosfeld.

Tiêu chuẩn loại trừ: Tổn thương viêm loét ruột non gây tắc ruột, những bệnh nhi được chẩn đoán xác định teo ruột nhưng không mổ hoặc không được tạo hình nhỏ bớt đầu trên của đoạn ruột giãn.

2.2.Phương pháp nghiên cứu.

Nghiên cứu hồi cứu mô tả

Tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật theo một kĩ thuật thống nhất. Các thông tin được nghiên cứu bao gồm tuổi, giới, lâm sàng, trọng lượng bệnh nhân khi vào viện, hình ảnh X- quang trên phim chụp bụng không chuẩn bị, thương tổn trong mổ (vị trí tắc, số nơi tắc, đường kính đầu trên đầu dưới, chiều dài đoạn ruột cắt bỏ, chiều dài ruột non còn lại), thương tổn phối hợp: tắc ruột phân su, viên phúc mạc phân su, xoắn ruột….các biến chứng và tử vong sau mổ.

Chúng tôi chia kết quả sớm làm 4 loại:

– Tốt: Xuất viện trước 30 ngày sau mổ, không có biến chứng sớm và trong tình trạng như trẻ bình thường cùng tuổi: ăn tốt, ỉa tốt, không nôn, lên cân…..

– Khá: Bệnh nhi xuất viện trước 30 ngày sau mổ, còn nôn ít, có lên cân hoặc có biến chứng sóm đã điều trị khỏi và những bệnh nhi còn ở lại bệnh viện sau mổ 30 ngày vì suy dinh dưỡng, thiếu tháng.

– Trung bình: Những bệnh nhi phải nằm viện sau mổ trên 30 ngày vì các biến chứng sớm.

– Kém: Nhóm bệnh nhi tử vong sớm sau mổ (trong 30 ngày sau mổ).

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.

3.1. Đặc điểm chung

Trong 3 năm có 52 bệnh nhi TRNBS được điều trị phẫu thuật bằng kỹ thuật nối ruột
tận tận sau khi tạo hình nhỏ bớt đầu trên, bao gồm 31 trẻ trai (59,6%) và 21 trẻ gái ( 41,4%).
Có 12 trẻ đẻ thiếu tháng chiếm 23% và không có trẻ đẻ già tháng.

Trọng lượng bệnh nhi khi đẻ thấp nhất là 1,5% và cao nhất là 4,3%, trung bình là
2,8 ± 1,3%.

Tuổi lúc vào viện sớm nhất là 3 giờ và muộn nhất là 10 ngày sau đẻ, trung bình là
2,9 ± 4,3.

There are no comments yet

Tin khác đã đăng